ở Nhà sáng tác Đà lạt - 4 -2008
“Nguyễn Thúy Ái chỉ có một cái tội”
Tản mạn
——————————
Tiểu Dân
Tiểu Dân thật sự muốn cầm trong tay cuốn “Tột đỉnh tình yêu”, muốn đọc từ đầu đến cuối, soi mói từng con chữ để xem nó “báng bổ danh nhân”, nó “vi phạm pháp luật”, nó “trần truồng ấu trĩ”, nó “nhắm vào ‘khách’ không có văn hóa” đến đâu. Tiểu Dân thật sự không tin là người có đầu óc, có suy nghĩ như Nguyễn Thúy Ái lại chỉ vẽ con heo mà không vẽ bộ lòng. Ngoại trừ loại bồi bút siêu hạng ra, bất cứ tác phẩm văn học nào cũng hàm chứa tâm tư, suy nghĩ, nhìn nhận, trở trăn của chính tác giả, không ít thì nhiều, không cách này thì cách khác. Ai biết được bên dưới mẩu đá dục vọng thường được người-Việt-cao-thượng ban cho 2 từ “hèn hạ”, đang lênh dênh cô lẻ trên đại dương văn học hiện đại mênh mông kia lại ẩn dấu cả một tảng băng trôi khổng lồ những suy nghĩ táo bạo về một cuộc vượt biên đến những vùng biển cấm.
Vũ Hạnh tự nhận mình là nhà văn, nhưng qua bài viết của ông, Tiểu Dân nhận thấy cách xử lý ngôn từ của ông có nhiều chỗ không ổn, khi thì quá hình thức, khoa trương, khi lại vụng về, lúng túng, như thể người nhận mình là thầy thuốc mà không rành thuốc, không khỏi khiến Tiểu Dân có chút nghi ngờ về giá trị của bài viết.
Nay truyện đã bị thu hồi, thật khó để có thể đưa ra bất cứ nhận định nào, nhưng Tiểu Dân thật sự rất hứng thú muốn biết Nguyễn Thúy Ái thật sự đã “đốt đền thờ” hay “thiêu chính mình”, muốn biết Nguyễn Thúy Ái đã “không đủ khôn” đến mức nào, cô đã cố ý “tự đề cao mình” ra sao khi “hạ thấp Ức Trai”, tự “loại mình ra khỏi dân tộc” như thế nào, và để kiểm điểm lại chính bản thân tiểu dân, một độc giả tìm đến “Tột đỉnh tình yêu”, xem mình là loại “khách không hề đồng nghĩa với những con người có một tầm nhìn văn hóa” đến như thế nào.
Chung quy lại (và nói đi nói lại) thì bề nổi của vấn đề chỉ vỏn vẹn có hai khía cạnh: Pháp luật và văn hóa. Xong cả hai khía cạnh này đều được đánh giá một cách khá chủ quan, không có một chuẩn mực nhất định. Sự sùng bái cá nhân, ở đây là cá nhân Ức Trai, cũng giống như một thứ tín ngưỡng mà ở đó “tội” của Nguyễn Thúy Ái nặng hay nhẹ là tùy vào việc “người định tội” “sùng đạo” đến đâu. Bi hài chính là chỗ “mức độ sùng đạo” của kẻ định tội là thước đo tuyệt đối để định tội Nguyễn Thúy Ái, một người tương đối “ngoại đạo” với thứ “tín ngưỡng” sùng bái cá nhân.
Mặt nổi là vậy, rằng cô, Nguyễn Thúy Ái, vi phạm pháp luật, rằng cô lăng mạ vĩ nhân, rằng cô coi thường dân tộc. Kẻ thẳng thắn thì chửi cô mất dạy, kẻ (giả?) nhân (giả?) nghĩa thì nói cô dại dột, có làm mà không có lường. Nhưngcólẽởđâycòncómặt chìm.
Tuy không phải là người học rộng hiểu nhiều, không phải là người từng trải và giỏi chiêm nghiệm, Tiểu Dân cũng biết được một điều, ấy là sự đào thải. Văn đàn là cái sàng nghiệt ngã mà không có bất kỳ một giá trị giả tạo nào có thể tồn tại. Những người tự xưng là nhà văn, nhà thơ chắc chắn phải hiểu rõ quy luật đào thải này hơn bao giờ hết, vì chính họ phải từng ngày nếm trải vị đắng của sự đào thải nơi độc giả đối với những đứa con tinh thần không được kết tinh bởi tâm huyết, không được nuôi lớn bằng trách nhiệm của kẻ cầm bút. Vậy thì họ, những người tự xưng là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, học giả, họ nhiều lời, họ bận tâm làm gì với một tác phẩm rác rưởi, tầm thường, tự nó không có chỗ đứng? Làm vậy chẳng phải chỉ để cho Tiểu Dân, một con nhóc miệng hôi rình mùi sữa, đánh giá họ là những kẻ “viết theo đơn đặt hàng, kiểu gì cũng có ‘khách’ mua nên chưa bao giờ hình thành khái niệm ‘tự đào thải’ trong văn chương” hay nói trắng ra là bồi bút. Vì đã quen với tư tưởng hễ cái gì viết ra là có người đọc, có người hưởng ứng, răm rắp nghe theo nên họ cho là chướng mắt.
Biết đâu bề chìm của vấn đề chính là đây, là cái lẽ vì sao họ chướng mắt. Theo Tiểu Dân thì Nguyễn Thúy Ái chỉ có một cái tội duy nhất, ấy là cái tội dám tiên phong xông thẳng vào đập phá thành trì sùng bái cá nhân kiên cố mà nhiều người cố ý và nhiều người khác vô tình tạo nên, và họ, những kẻ đã cố công xây nên cái thành trì ấy bắt đầu phản ứng, một số thì bất bình, số khác căm tức, số khác run sợ. Ai biết được nếu không dấy lên một dư luận chỉ trích mạnh mẽ, bài trừ thẳng tay thì nhân vật tiếp theo bị gỡ xuống khỏi đền thờ sẽ là ai. Và cũng chẳng ai biết việc gỡ nhân vật tiếp theo xuống khỏi đền thờ đó có còn nằm vỏn vẹn trong khuôn khổ văn chương hay không, hay nó lại lan man sang đến lịch sử và những toan tính đòi viết lại tiểu sử của nhiều nhân vật không nên viết lại tiểu sử.
Trong cuộc “đấu tố” Nguyễn Thúy Ái này, cũng như mọi cuộc đấu tố, luôn luôn có những con cừu trực tiếp làm hành động ném đá,và có những kẻ chăn cừu.
- Tiểu Dân là ai? Xin cho Nguyễn Thúy Ái được hân hạnh làm quen!
Trích đọan “Trở về Lệ chi viên”
Sau tết Đoan Ngọ, vải chín ửng khắp vườn. Loại trái này vào cuối mùa tuy trái nhỏ hơn nhưng ngon ngọt hơn và màu chín hiện ra bên ngoài vỏ cũng đẹp một cách kỳ lạ bởi sự pha trộn màu không đều trải lên lớp vỏ xù xì khiến cho trái vải trông vừa ngon mắt, vừa ngon miệng ngay cả khi chưa bóc vỏ… Chưa có năm nào vải được mùa như năm nay. Ức Trai tiên sinh ra lệnh cho đám gia nhân không được hái hết vải trên cành mà phải chừa lại trên khắp cả vườn, làm sao để cây nào trông vẫn trĩu quả. Không chỉ những loài hoa, mà vẻ đẹp của quả cũng khiến lòng ông hửng lên một niềm vui.
Từ ngày xa rời việc quan về ẩn dật nơi này, Ức Trai tiên sinh tưởng như thoát khỏi những phiền toái, phức tạp trong triều đình. Nhưng ông lại không thoát khỏi nỗi muộn phiền của lòng mình. Càng hòa mình vào thiên, quan sát cuộc sống của cây cỏ ông càng chiêm nghiệm sâu sắc về sự tồn vong, thịnh suy của cuộc sống, của một triều đại. Ông càng ngán ngẫm cho việc xâu xé, thu tóm quyền lực trong triều. Bao nhiêu công thần bị Lê Lợi bắt giam và bị giết, chính ông cũng bị người mà ông hết lòng phò tá ấy giam vào ngục tối, may mà giữ được mạng sống… Lâu nay tâm hồn ông có phần yên tĩnh hơn nhờ việc trước tác. Có lẽ đó chính là lối thoát, cũng là lúc ông được sống thật với con người của mình. Thi ca giúp tâm hồn ông trẻ lại, dạt dào cảm xúc. Năm nay tiên sinh gần lục tuần, đã trót một đời người. Với dân thường, ở tuổi ấy, họ chuẩn bị lễ lên lão để sống cuộc đời của một ông già thực sự, an phận thủ thường, vui vầy với con cháu, với cảnh điền viên. Còn với ông, dù không cần làm lễ lên lão nhưng trong con mắt tôn kính của con cháu, của đám gia nhân, của dân chúng và những kẻ sĩ ưu thời mẫn thế, từ lâu ông đã là một ông già với tất cả sự cao qúy của nghĩa ấy vì những gì ông đóng góp cho sơn hà xã tắc. Một vị khai quốc công thần, một thi tài lồng lộng như sao Khuê, họ xem ông như một thần nhân. Với họ, Ức Trai tiên sinh là một con người ưu tú của dân tộc mà dễ đến cả trăm năm, thậm chí nghìn năm mới được sinh ra… Cũng có lúc Nguyễn Trãi muốn mình thực sự già đi, để dễ sống hơn. Chả là lâu nay ông tập trung vào việc soạn thảo Quốc Âm Thi Tập để răn dạy con cháu và người đời sống sao cho hợp đạo lý. Mọi đau khổ, bất hạnh của con người cũng do việc sống trái với Đạo mà ra. Đạo cũng chính là quy luật của cuộc sống vậy…
Nhưng sáng nay có một việc xảy ra khiến Ức Trai tiên sinh cảm thấy tâm hồn mình bị xáo trộn. Như mọi ngày, sau buổi trà sớm, ông thăm đám hoa kiểng của mình rồi vào thư phòng đọc sách. Giữa buổi ông nghỉ ngơi một lát rồi đi dạo. Hôm nay ông muốn ngắm cho thỏa vẻ đẹp của những trái vải cuối mùa. Là một nghệ sĩ, ông hiểu rằng Tạo hóa chính là người nghệ sĩ vĩ đại nhất, sáng tạo đến vô cùng và tận tụy nhất. Ngoài kiệt tác là con người, Ngài đã kỳ công tạo tác ra mọi thứ với trí tưởng tượng và óc thẩm mỹ kỳ diệu. Từ hình dáng màu sắc của những bông hoa, chiếc lá, từng loại cây trái, đến từng vẻ đẹp của những con cá, con tôm sống dưới nước cũng đều hoàn hảo, hài hòa và không trùng lắp. Mỗi tạo vật là một tuyệt tác và chỉ được tạo ra một lần duy nhất… Một nét bút của Tạo hóa, cả nghìn năm con người chưa bắt chước nổi. Tiên sinh vừa đi vừa suy nghĩ miên man. Nắng sớm tháng năm rực rỡ, chan hòa khắp vườn khiến tâm hồn u uẩn của ông có phần ấm lại nên đi một lúc, có lâu hơn thường lệ ông vẫn chưa thấy mệt. Bất chợt ông nhìn ra phía cổng có một nữ gia nhân đang chọn chiếu để mua của một người bán chiếu rong. Chuyện này vẫn thường xảy ra nên ông không để ý và định lui gót, vào thư phòng tiếp tục công việc. Nhưng chưa kịp vào, người nhà mua chiếu ban nãy đến trước mặt ông vòng tay cung kính:
- Thưa ngài, có cô bán chiếu con vừa mua còn đứng ngoài kia, thấy quả vải nhà mình nhiều và tốt quá nên xin ngài ban cho một ít, để cô mang về làm quà cho cha mẹ.
Ông ngoái nhìn, quả là cô bán chiếu còn đứng đó, có ý chờ đợi. Ông định gật đầu, bởi vải chín trong vườn lâu nay ông thường sai gia nhân đem biếu cho họ hàng thân tộc, chiêu đãi mọi người là chính. Bỗng ông đổi ý:
- Thôi, ngươi cứ mang chiếu vào nhà đi, để ta đem ra cho họ…
Trên chiếc đôn ngoài hiên, sáng nay ông lão bộc đã chọn sẵng một mâm vải quả được cột thành từng chùm rất khéo để chủ nhân đãi khách vào chiều nay. Nguyễn Trãi chọn hai chùm vải ưng ý nhất rồi đi nhanh ra cổng. Chính ông cũng ngạc nhiên khi nhận ra sự nhanh nhẹn khác thường ấy của mình, trái với phong cách chậm rãi thư nhàn của ông lâu nay. Bởi người con gái bán chiếu trong bộ áo tứ thân đơn sơ và chiếc khăn mỏ quạ sùm sụp trên đầu như mọi cô gái quê khác, nhưng là người nhạy cảm với cái đẹp nên tiên sinh nhận ra đó là dung mạo của một mỹ nhân, vóc hình trẻ trung và thon lẳn. Thấy ông, cô gái gần như run lên. Ức Trai tiên sinh, với một giọng nói âm vang nhưng dịu dàng và ân cần rất mực để cô gái khỏi sợ, ông bảo:
- Đây ta ban cho …
Ông ngập ngừng không biết gọi cô gái là “ngươi” hay “nàng”, bởi tuy vẫn còn run rẩy, người con gái đưa hai tay đón nhận chùm vải chín mọng như nhận một ân huệ từ bậc thiên tài. Đôi mắt đen dài lúng liếng dưới lần khăn kia nhìn ông e ấp nhưng không kém phần dạn dĩ, lẳng lơ, rung động của một người nữ nhìn người đàn ông, tuy lớn tuổi nhưng phong thái sang cả, uy nghiêm mà vẫn chan chứa tình, người mà cô từng nghe tiếng từ lâu, vả lại dinh cơ này của Nguyễn Trãi đại thần, người dân nào mà không biết.
- Em xin tạ ân ngài…
Chữ em ngọt ngào ấy của cô gái trẻ đẹp như một dòng nước mát rót vào lòng tiên sinh, giữa cái nắng bắt đầu lên cao, oi nồng. Ông tự hỏi, chẳng lẽ trước mặt cô không phải là một vị đại thần già nua, một bậc hiền triết mệt mỏi với thế thái nhân tình? Tiếng “em” ấy khiến ông không thể quay vào ngay. Tiên sinh hỏi tiếp:
- Vậy quê cô em ở đâu …
Cô trả lời nhưng ông không kịp ghi nhớ vì bận tâm hỏi tiếp một câu nữa:
- Vậy năm nay cô em được bao nhiêu xuân xanh rồi ?
- Dạ thưa ngài, em vừa đến tuổi trăng tròn lẻ…
Ông hơi mỉm cười vì một cô bán chiếu cũng nói năng văn hoa gớm, chắc cô cũng biết ông là một nhà thơ. Cô này thông minh đây. Có thể nghi ngờ điều này, nhưng một điều ông chắc chắn, đó là cô gái đẹp, đẹp lắm. Đôi mắt đen láy, lấp lánh dưới một hàng mi rợp mát, làn da trắng nõn ửng hồng vì nắng. Chiếc yếm nâu, cũ và chật không ép được vồng ngực căng, đầy sức sống… Nhan sắc này nếu được sống trong nhung lụa, được kẻ hầu người hạ và nhất là được khai tâm mở trí bằng chữ nghĩa thì chẳng thua kém những bậc nữ lưu cao quý, những quận chúa, mệnh phụ phu nhân trong triều đình. Nghĩ thế ông không ngần ngại hỏi tiếp :
- Thế cô em được mấy con rồi ?
Đôi mắt cô gái càng sáng lên khi được hỏi câu này, như một thí sinh được vị giám khảo hỏi đúng vào câu mà mình đã chuẩn bị kỹ:
- Dạ thưa ngài, em còn chưa có chồng, làm chi có con ạ.
Người hỏi cũng thấy hài lòng không kém gì người trả lời. Thấy đứng lâu ngoài đường, nói chuyện với một cô gái dân dã thế này không tiện nên Ức Trai tiên sinh đành phải từ biệt cô với lời dặn.
- Khi nào dệt được chiếu đẹp, mang đến cho ta xem nhé.
Quả là Ức Trai tiên sinh chưa bao giờ tự tay chọn chiếu cho mình. Dù cuộc đời ông từng trải qua thăng trầm, có lúc phải xa quê hương, khốn khó, không được sống đúng với vị thế cao quý của mình. Nguyễn Trãi sinh ra ở đất Thăng Long, mẹ ông là một tiểu thư dòng tôn thất, con gái yêu của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Ông là kết quả của một cuộc tình duyên say đắm và dám vượt khỏi lễ giáo nghiêm khắc thời ấy. Mẹ ông lỡ có thai với người học trò nghèo, biết đó là một cái tội phạm thượng nên người học trò ấy phải trốn đi. Quan Tư đồ biết được và độ lượng tác hợp cho họ nên vợ nên chồng. Sau này cha của ông là Nguyễn Phi Khanh mới thi đỗ tiến sĩ. Nguyễn Trãi từ nhỏ được sống trong dinh phủ với ông ngoại. Trang viên rộng lớn, nơi Ức Trai tiên sinh lui về ẩn dật thường gọi là Lệ chi viên cũng là cơ ngơi lâu đời của một giòng họ danh giá bậc nhất, là nơi vui thú khi quan tể tướng Trần Nguyên Đán về hưu. Vì thế việc Nguyễn Trãi đứng nói chuyện, ban tặng phẩm vật cho một cô gái bán chiếu ngoài đường, chưa biết rõ lại lịch khiến đám gia nhân xì xầm, đến tai cả con cháu ông.
Nỗi xao xuyến của Ức Trai trước cô gái đẹp tuy mãnh liệt nhưng ông nghĩ rằng việc ấy sẽ qua. Ông lại rơi vào nỗi cô đơn và chỉ chú tâm vào việc soạn sách, làm thơ là chính. Nhưng thật bất ngờ, chưa đến một tuần trăng sau, cô gái bán chiếu ấy lại đến và xin dâng lên Ức Trai tiên sinh một đôi chiếu rất đẹp. Gia nhân dâng lên cho ông xem, ông rất ưng ý nhưng khi gia nhân trả tiền cô không nhận. Nghe thế, tiên sinh bảo người nhà vào kho lấy ban cho cô một tấm lụa thì cô xin nhận. Lần này ông mới biết được tên cô, Nguyễn Thị Lộ và nắm rõ quê quán của cô gái.